Từ năm 2026, Luật Thuế thu nhập cá nhân mới bổ sung tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật vào nhóm thu nhập được miễn thuế TNCN. Quy định này khiến không ít doanh nghiệp hiểu rằng: cứ trả tiền cho ngày phép năm chưa nghỉ thì khoản tiền đó đều được miễn thuế.
Cách hiểu này chưa đầy đủ.
Điểm quyết định không nằm ở tên khoản chi là “tiền phép năm”, mà nằm ở lý do vì sao doanh nghiệp trả tiền cho những ngày phép chưa nghỉ và khoản thanh toán đó có đáp ứng điều kiện của pháp luật lao động mà Nghị định 253/2026/NĐ-CP viện dẫn hay không.
Đây cũng là vấn đề doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khi cuối năm thường có chính sách “không nghỉ hết phép thì quy đổi thành tiền”.
1. Quy định mới về miễn thuế TNCN đối với tiền phép năm
Khoản 8 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 đưa tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật vào nhóm thu nhập được miễn thuế TNCN. Luật có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định cụ thể hơn: khoản tiền trả cho những ngày không nghỉ phép được miễn thuế khi phù hợp về điều kiện và mức tiền trả theo khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động. Nếu khoản tiền trả vượt mức pháp luật quy định thì phần vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế
Đây chính là chi tiết dễ bị bỏ qua. Không nên chỉ đọc câu:
“Tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép được miễn thuế TNCN.”
mà bỏ qua cụm từ:
“phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công… theo khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động.”
Muốn biết khoản tiền phép nào được miễn thuế, vì vậy phải quay lại Bộ luật Lao động.
2. Khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động quy định thế nào ?
Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 quy định về nghỉ hằng năm. Người lao động làm đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động được nghỉ hằng năm hưởng nguyên lương, thông thường là 12 ngày đối với công việc trong điều kiện bình thường; một số nhóm được 14 hoặc 16 ngày.
Riêng khoản 3 Điều 113 quy định trường hợp do thôi việc hoặc bị mất việc làm mà người lao động chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm, người sử dụng lao động phải thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Như vậy, đối với doanh nghiệp thông thường, trường hợp được khoản 3 Điều 113 điều chỉnh trực tiếp là:
Người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm + còn ngày phép chưa nghỉ → doanh nghiệp thanh toán tiền những ngày phép còn lại.
Đây là trường hợp rõ nhất đáp ứng điều kiện miễn thuế TNCN tại Điều 26 Nghị định 253.
3. Điểm dễ nhầm: người đang làm việc vẫn có thể được công ty trả tiền phép
Đến đây có thể xuất hiện một câu hỏi:
Nếu pháp luật chỉ quy định bắt buộc thanh toán khi thôi việc hoặc mất việc, vậy doanh nghiệp có được tự nguyện trả tiền phép chưa nghỉ cho người lao động vẫn đang làm việc không?
Có thể.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội từng giải đáp rằng pháp luật lao động khuyến khích những thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động. Vì vậy, doanh nghiệp có thể thỏa thuận thanh toán tiền cho những ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng ngoài trường hợp thôi việc, mất việc quy định tại khoản 3 Điều 113.
Ví dụ, quy chế của công ty quy định: Cuối năm, người lao động còn ngày phép chưa sử dụng sẽ được công ty quy đổi số ngày còn lại thành tiền. Quy định như vậy không đồng nghĩa là trái pháp luật lao động.
Nhưng từ đây phải phân biệt hai vấn đề:
| Vấn đề | Kết luận |
|---|---|
| Công ty có được trả tiền phép cho NLĐ đang làm việc không? | Có thể thỏa thuận |
| Khoản tiền đó có tự động được miễn thuế TNCN không? | Không nên mặc nhiên coi là được miễn |
4. Được trả tiền phép không đồng nghĩa được miễn thuế TNCN
Điều 26 Nghị định 253 không nói rằng tất cả các khoản doanh nghiệp tự nguyện trả cho ngày phép chưa nghỉ đều được miễn thuế.
Nghị định gắn điều kiện miễn thuế với khoản tiền trả phù hợp với khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động. Trong khi khoản 3 Điều 113 đang quy định trực tiếp trường hợp người lao động thôi việc hoặc mất việc làm.
Do đó, theo cách đọc trực tiếp và thận trọng của quy định hiện hành:
Trường hợp 1: Người lao động nghỉ việc và còn phép
Ví dụ anh A nghỉ việc ngày 31/8/2026 và còn 5 ngày phép năm chưa sử dụng. Công ty phải thanh toán tiền của 5 ngày này theo khoản 3 Điều 113.
Khoản thanh toán đáp ứng điều kiện Điều 26 Nghị định 253 nên được miễn thuế TNCN trong phạm vi mức tiền được xác định theo pháp luật.
Trường hợp 2: Người lao động bị mất việc và còn phép
Cách xử lý tương tự. Do đây cũng là trường hợp được khoản 3 Điều 113 quy định nên tiền lương tương ứng với số ngày phép chưa nghỉ thuộc phạm vi được xem xét miễn thuế theo Điều 26.
Trường hợp 3: Người lao động vẫn đang làm việc, cuối năm công ty mua lại phép
Ví dụ chị B vẫn tiếp tục làm việc tại công ty sang năm 2027 nhưng cuối năm 2026 còn 5 ngày phép. Theo quy chế nội bộ, công ty trả tiền cho 5 ngày này.
Việc thanh toán có thể được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận có lợi cho người lao động. Tuy nhiên, khoản tiền này không phát sinh từ trường hợp thôi việc hoặc mất việc theo khoản 3 Điều 113.
Vì vậy, doanh nghiệp không loại khoản tiền này khỏi thu nhập chịu thuế chỉ vì trên bảng lương ghi tên là “thanh toán phép năm”.
Nếu NLĐ vẫn đang làm việc và doanh nghiệp tự nguyện quy đổi ngày phép chưa nghỉ thành tiền theo quy chế hoặc thỏa thuận, nên tính khoản tiền này vào thu nhập chịu thuế TNCN, trừ khi sau đó cơ quan thuế có hướng dẫn chính thức theo hướng khác.
Đây chính là điểm nhiều doanh nghiệp có nguy cơ xử lý sai.
5. Mức tiền phép được miễn thuế được xác định như thế nào ?
Khoản 3 Điều 67 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định tiền lương làm căn cứ trả cho những ngày chưa nghỉ hằng năm trong trường hợp khoản 3 Điều 113 là tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề tháng người lao động thôi việc hoặc mất việc làm
Ví dụ, anh A nghỉ việc từ ngày 01/09/2026. Tháng 8/2026, tiền lương theo HĐLĐ của anh là 13.000.000 đồng, tháng đó có 26 ngày làm việc bình thường. Khi nghỉ việc, anh còn 5 ngày phép chưa sử dụng.
Tiền phép phải thanh toán có thể xác định:
13.000.000 ÷ 26 × 5 = 2.500.000 đồng.
Nếu khoản thanh toán 2,5 triệu đồng này đáp ứng đầy đủ điều kiện theo khoản 3 Điều 113 và Điều 67 Nghị định 145 thì đây là phần tiền phép thuộc phạm vi miễn thuế TNCN theo Điều 26 Nghị định 253.
Cần lưu ý thêm: khoản 3 Điều 26 Nghị định 253 quy định nếu số tiền trả vượt mức pháp luật quy định, phần vượt phải tính vào thu nhập chịu thuế
6. Đừng nhầm tiền phép với tiền lương của ngày nghỉ phép
Có ba khái niệm khá dễ bị nhập làm một:
Thứ nhất, nghỉ phép và vẫn hưởng lương. Người lao động sử dụng ngày nghỉ hằng năm bình thường và được hưởng nguyên lương. Đây đơn giản là tiền lương của thời gian nghỉ có hưởng lương.
Thứ hai, thanh toán ngày phép còn lại khi nghỉ việc hoặc mất việc. Người lao động không còn cơ hội sử dụng số ngày phép đó nên doanh nghiệp quy đổi thành tiền theo khoản 3 Điều 113. Đây là trường hợp trực tiếp liên quan đến chính sách miễn thuế mới.
Thứ ba, công ty tự nguyện mua lại phép của người vẫn đang làm việc. Đây là chính sách có lợi hơn cho NLĐ mà doanh nghiệp có thể thỏa thuận, nhưng không nên đánh đồng với trường hợp thứ hai khi xử lý thuế.
Nếu phần mềm lương chỉ có một mã chung tên “Tiền phép” cho cả ba trường hợp, bộ phận kế toán rất dễ xử lý thuế sai.
7. Ví dụ tổng hợp để doanh nghiệp dễ áp dụng
| Tình huống | Có thể/Phải trả tiền? | Xử lý TNCN |
|---|---|---|
| NLĐ nghỉ phép thực tế | Hưởng nguyên lương | Xử lý như tiền lương theo quy định |
| NLĐ nghỉ việc, còn 5 ngày phép | Phải thanh toán | Miễn thuế trong phạm vi đúng quy định |
| NLĐ bị mất việc, còn phép | Phải thanh toán | Miễn thuế trong phạm vi đúng quy định |
| NLĐ vẫn làm việc, cuối năm công ty mua lại phép | Có thể theo thỏa thuận/quy chế | Tiính thuế TNCN |
| NLĐ thỏa thuận nghỉ gộp sang năm sau | Chưa phát sinh khoản chi | Chưa phát sinh vấn đề TNCN về tiền phép |
| Công ty trả cao hơn mức được pháp luật xác định | Có thể tùy chính sách | Phần vượt không thuộc phạm vi miễn thuế |
Bảng này cũng cho thấy một nguyên tắc rất quan trọng:
Thuế không xử lý theo tên khoản chi, mà xử lý theo bản chất và điều kiện phát sinh khoản chi.
8. Có nhất thiết phải trả tiền nếu NLĐ chưa nghỉ hết phép cuối năm ?
Không phải trong mọi trường hợp.
Khoản 4 Điều 113 cho phép người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
Doanh nghiệp vì vậy có thể thiết kế chính sách theo hướng khuyến khích NLĐ sử dụng phép hoặc cho phép chuyển/gộp phép phù hợp, thay vì mặc định cuối năm mua lại toàn bộ ngày phép chưa sử dụng.
Điều này cũng hợp lý về mặt quản trị. Nghỉ hằng năm trước hết là một chế độ nghỉ ngơi và phục hồi sức lao động, không nên biến hoàn toàn thành một khoản tiền thưởng để người lao động cố tình không nghỉ.
9. 4 sai lầm doanh nghiệp dễ mắc từ năm 2026
Sai lầm thứ nhất là hiểu “tiền phép được miễn thuế” thành “mọi tiền phép đều được miễn thuế”. Quy định mới có điều kiện cụ thể chứ không miễn theo tên khoản chi.
Sai lầm thứ hai là nghĩ NLĐ đang làm việc không được phép nhận tiền phép. Doanh nghiệp vẫn có thể có chính sách thuận lợi hơn cho NLĐ; vấn đề nằm ở cách xử lý thuế của khoản tiền đó, không phải cứ trả là vi phạm lao động.
Sai lầm thứ ba là gộp tiền phép nghỉ việc và tiền mua lại phép cuối năm thành cùng một loại thu nhập miễn thuế. Hai khoản có bản chất pháp lý khác nhau.
Sai lầm thứ tư là không lưu hồ sơ chứng minh số ngày phép. Khi doanh nghiệp loại một khoản ra khỏi thu nhập chịu thuế, doanh nghiệp phải có căn cứ chứng minh vì sao khoản đó đáp ứng điều kiện miễn thuế.
10. Checklist HR – Kế toán khi thanh toán ngày phép chưa nghỉ
Trước khi xử lý một khoản tiền phép, doanh nghiệp chỉ cần trả lời 5 câu hỏi:
- Người lao động đã nghỉ việc/mất việc hay vẫn đang làm việc?
- Người lao động thực tế còn bao nhiêu ngày phép?
- Khoản thanh toán phát sinh theo khoản 3 Điều 113 hay theo chính sách riêng của công ty?
- Số tiền được tính từ căn cứ tiền lương nào?
- Khoản nào đủ điều kiện miễn thuế và khoản nào phải đưa vào thu nhập chịu thuế?
Nếu 5 câu hỏi này được tách rõ ngay từ dữ liệu nhân sự và bảng lương, việc tính thuế sẽ đơn giản hơn rất nhiều.
Kết luận
Từ năm 2026, việc bổ sung tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vào nhóm thu nhập miễn thuế TNCN là một thay đổi có lợi cho người lao động. Tuy nhiên, đây không phải chính sách miễn thuế vô điều kiện đối với mọi khoản “tiền phép”. Luật Thuế TNCN và Điều 26 Nghị định 253 gắn việc miễn thuế với điều kiện của pháp luật lao động, trong đó Nghị định dẫn trực tiếp tới khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động.
Với doanh nghiệp, cần đặc biệt phân biệt hai trường hợp:
NLĐ thôi việc/mất việc + còn phép chưa nghỉ → khoản thanh toán thuộc trường hợp pháp luật quy định và có cơ sở áp dụng miễn thuế.
NLĐ vẫn đang làm việc + công ty tự nguyện quy đổi phép thành tiền → có thể trả theo chính sách doanh nghiệp, nhưng không nên mặc nhiên xem khoản tiền đó là thu nhập miễn thuế.
Đây cũng là lý do HR và kế toán nên phân loại khoản tiền theo bản chất pháp lý trước khi tính thuế, thay vì chỉ dựa vào tên gọi trên bảng lương.



