Một người bỏ vốn thành lập công ty có đương nhiên phải đóng bảo hiểm xã hội không? Nếu là chủ Công ty TNHH một thành viên nhưng thuê người khác làm Giám đốc thì sao? Thành viên góp 10%, 40% vốn trong Công ty TNHH hai thành viên có phải tham gia BHXH? Còn cổ đông sở hữu 40% công ty cổ phần thì thế nào?
Điểm dễ gây nhầm nằm ở chỗ: BHXH không xác định nghĩa vụ tham gia chỉ dựa trên việc một người có góp vốn hay sở hữu bao nhiêu phần trăm vốn.
Từ ngày 01/07/2025, Luật BHXH 2024 đã mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc sang cả người quản lý doanh nghiệp không hưởng tiền lương. Vì vậy, câu hỏi quan trọng nhất không còn đơn giản là “có nhận lương hay không”, mà phải xác định:
Người góp vốn đó có đồng thời là “người quản lý doanh nghiệp” theo Luật Doanh nghiệp hay không?
Đây chính là chìa khóa để xử lý hầu hết các trường hợp.
Phạm vi bài viết tập trung vào cá nhân là công dân Việt Nam. Trường hợp nhà đầu tư/người quản lý là người nước ngoài cần xem xét theo nhóm đối tượng riêng.
1. Nguyên tắc quan trọng nhất: BHXH không nhìn vào tỷ lệ góp vốn, mà nhìn vào tư cách pháp lý
Điểm i khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2024 đưa người quản lý doanh nghiệp có hưởng tiền lương vào diện BHXH bắt buộc.
Đáng chú ý hơn, điểm n khoản 1 Điều 2 tiếp tục quy định người quản lý doanh nghiệp không hưởng tiền lương cũng thuộc diện BHXH bắt buộc. Quy định này có hiệu lực từ 01/07/2025.
Như vậy:
Có hưởng lương hay không không còn quyết định việc một người quản lý có phải tham gia BHXH hay không.
Nó chủ yếu quyết định cách xác định mức đóng và trách nhiệm đóng.
Muốn biết ai là “người quản lý doanh nghiệp”, phải quay lại Luật Doanh nghiệp. Khoản 24 Điều 4 xác định nhóm này bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, Chủ tịch và thành viên HĐQT, Giám đốc/Tổng giám đốc và một số chức danh quản lý khác theo Điều lệ
Đây dẫn đến một nguyên tắc rất quan trọng:
Không phải cứ có vốn là phải đóng BHXH. Nhưng nếu việc sở hữu vốn đồng thời làm phát sinh tư cách người quản lý doanh nghiệp thì người đó có thể thuộc BHXH bắt buộc, kể cả không nhận lương.
Bảng dưới đây cho thấy sự khác biệt:
| Tư cách | Có tự động là người quản lý? | BHXH bắt buộc do chính tư cách đó? |
|---|---|---|
| Chủ sở hữu cá nhân Công ty TNHH MTV | Có – là Chủ tịch công ty | Có |
| Thành viên cá nhân Công ty TNHH 2TV+ | Có – là thành viên HĐTV | Có |
| Cổ đông Công ty cổ phần | Không | Không, nếu chỉ là cổ đông |
| Thành viên HĐQT Công ty cổ phần | Có | Có |
| Thành viên hợp danh | Có | Có |
| Thành viên góp vốn Công ty hợp danh | Không chỉ vì góp vốn | Không, nếu không thuộc nhóm khác |
| Chủ doanh nghiệp tư nhân | Có | Có |
Đây cũng là lý do không nên sử dụng chung một câu trả lời kiểu “thành viên góp vốn phải đóng BHXH” cho tất cả các loại hình doanh nghiệp.
2. Công ty TNHH một thành viên: chủ sở hữu cá nhân có phải đóng BHXH?
Đây là trường hợp có câu trả lời rõ nhất.
Theo khoản 2 Điều 85 Luật Doanh nghiệp:
Chủ sở hữu công ty là Chủ tịch công ty và có thể kiêm hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Nói cách khác, đối với Công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu:
Chủ sở hữu → đồng thời là Chủ tịch công ty → là người quản lý doanh nghiệp.
Mà người quản lý doanh nghiệp dù có hưởng lương hay không hưởng lương đều đã được đưa vào BHXH bắt buộc theo điểm i và điểm n khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2024.
Ví dụ thực tế
Công ty TNHH MTV ABC có:
- Ông A: sở hữu 100% vốn;
- Ông A là Chủ tịch công ty;
- Ông B được thuê làm Giám đốc đồng thời là người đại diện theo pháp luật.
Một số doanh nghiệp cho rằng vì ông B mới là người điều hành và đại diện pháp luật nên ông A chỉ còn là “người bỏ vốn” và không cần đóng BHXH.
Cách hiểu này không đúng.
Việc thuê ông B làm Giám đốc không làm mất tư cách Chủ tịch công ty của ông A. Ông A vẫn là người quản lý doanh nghiệp và do đó vẫn phải xác định nghĩa vụ BHXH của mình.
Đây là một trong những thay đổi mà doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý từ 01/07/2025.
3. Công ty TNHH hai thành viên trở lên: góp vốn đồng nghĩa với trở thành người quản lý
Trường hợp này khác rất nhiều so với công ty cổ phần.
Khoản 1 Điều 55 Luật Doanh nghiệp quy định:
Hội đồng thành viên bao gồm tất cả thành viên công ty là cá nhân và người đại diện theo ủy quyền của thành viên là tổ chức.
Trong khi đó, khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp xác định thành viên Hội đồng thành viên là người quản lý doanh nghiệp.
Do đó, với một cá nhân trực tiếp góp vốn vào Công ty TNHH hai thành viên trở lên, chuỗi pháp lý thông thường sẽ là:
Góp vốn → trở thành thành viên công ty → là thành viên HĐTV → là người quản lý doanh nghiệp → thuộc diện BHXH bắt buộc.

